CHIA SẺ ÔN THI VÀO 10 MÔN NGỮ VĂN, NHƯỢNG KHXH

Lượt xem:

Đọc bài viết

MỘT SỐ KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÔN THI VÀO LỚP 10 MÔN NGỮ VĂN KHÔNG CHUYÊN

Nguyễn Văn Nhượng

Tổ trưởng Tổ KHXH

 Trường THCS Giao Nhân

Ngữ văn vừa là bộ môn khoa học vừa là bộ môn nghệ thuật, bộ môn thuộc về lĩnh vực cái đẹp, cái đẹp của mĩ cảm ngôn từ, cái đẹp của tư tưởng, tình cảm, của tâm hồn nhân văn cao cả. Văn học soi sáng các giá trị, dẫn dắt con người vượt lên các giá trị nhất thời, vươn tới các giá trị bền vững; là nền tảng giúp mỗi HS bồi dưỡng tâm hồn, xây dựng, phát triển và hoàn thiện nhân cách.

Dạy học Văn, hẳn ai cũng mang trong mình khát vọng rất đáng trân trọng là muốn HS của mình trở thành một nhân bản thật tốt, chí ít là đạt được mục tiêu của bộ môn. Nhưng trên thực tế, mong muốn là câu chuyện của muôn đời, làm được hay không lại phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, kĩ năng sư phạm, khả năng truyền cảm hứng, nhân cách đạo đức, và “cái duyên” làm nghề của mỗi thầy. Có người nói, các bộ kinh sách dẫu có hay đến mấy nhưng thiếu các nhà sư giỏi thì giáo lí nhà Phật cũng chẳng thấm vào đâu. Về nguyên tắc, muốn hạt nào nảy mầm thì chăm chút, tưới tắm cho hạt đó. Vậy mà có đôi khi chúng ta tưới nhầm luống nên “nhọc công mà chẳng nên nông nỗi gì”.

Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, vì nhiều lý do HS không còn thực sự tha thiết với môn Văn, trong khi nó vẫn là môn thi tuyển sinh vào THPT mang tính “đóng đinh”. Mặc cho tính chất quan trọng, chứa đựng một áp lực không hề nhỏ như thế thì vẫn có nhiều em học đối phó, học lấy điểm mà không thực sự hào hứng, không tìm thấy niềm vui trong môn học. Điều đó đang trở thành thách thức và nỗi trăn trở của mỗi thầy, nhất là kì thi vào lớp 10 đang đến gần.

Chương trình 2018 đã đi được nửa chặng, dẫu vậy, trước mắt còn chưa đầy hai năm chương trình 2006 kết thúc thì cả thầy và trò vẫn phải đi hết cung đường, trước khi mở ra một không khí mới, tươi tắn hơn. Bởi tính chất chuyển cấp nên việc ôn tập thi sao cho có hiệu quả trở thành một mối quan chú hàng đầu của các thầy cô hiện đang gánh trên vai lớp 9.

 Dưới đây, xin được chân thành, cởi mở với các thầy cô đôi điều suy nghĩ trong quá trình ôn tập những năm qua. Chúng, ít nhiều, đã và đang mang đến cho tôi những xúc cảm nghề nghiệp và kinh nghiệm, dẫu bản thân luôn tự ý thức được những giới hạn chủ quan không dễ vượt qua.

Đảm bảo sự phân hoá, tính vừa sức

và truyền cảm hứng, động lực học tập cho HS

Đầu tiên, ở lớp nào cũng vậy, khi nhận lớp, nhất là đối với lớp cuối cấp, chuyển cấp thì việc đầu tiên của GV là cần nắm bắt tâm tư nguyện vọng; đánh giá được năng lực của từng em để phân luồng, định hướng phương pháp giáo dục và cách thức tác động để HS tiến bộ. GV cần thiết kế phiếu test nhanh mục tiêu của HS trong năm học để có định hướng giúp các em; test nhanh bằng các bài tập ngắn về những kĩ năng cơ bản, xem xét ở mỗi kĩ năng HS mạnh/yếu điểm nào để hoạch định hệ thống kích hoạt vào đúng và trúng nhu cầu của HS.

Việc nắm bắt, phân hoá HS, đảm bảo tính vừa sức trong dạy học là vô cùng quan trọng. Về điều này, xin được nhắc lại quan điểm của cô giáo Trần Thị Minh Thanh (Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong):

– Vì đặc trưng đối tượng: độ tuổi HS lớp 9 kiến thức, kĩ năng, vốn sống vẫn còn hạn chế. Vì thế không thể dạy học, ôn tập hoặc ra đề dưới sức nhưng cũng không thể quá sức với HS.

– Vì mục tiêu ôn tập cho thi cử: nếu ra đề dưới sức, HS nào cũng làm được, hòa cả làng; ra đề quá sức, HS không làm được. Cả hai trường hợp đều dẫn đến hậu quả là không phân hóa được HS, mục tiêu thi cử khó đạt.

– Vì mục đích định hướng giảng dạy: việc thi cử có tính định hướng quan trọng đến việc giảng dạy của GV. Vì thế, nếu đề ôn tập dưới sức, HS dễ dẫn đến tâm lí chủ quan, không chịu đào sâu, tìm tòi. Ngược lại, nếu đề quá sức lại khiến HS lo lắng, chỉ lo dạy và học nâng cao, dẫn đến mệt mỏi do quá tải, thi cử hiệu quả thấp.

Từ quan điểm trên, nhắc mỗi thầy cô khi ôn tập, kiểm tra cần bám sát độ khó của kiến thức và đề bài để tránh “hao tổn binh lực”.

Sau cùng, biết tạo cảm hứng và động lực học tập cho HS cũng là một yêu cầu, một nhiệm vụ tối cần thiết của GV. Khi không có cảm hứng và động lực thì làm bất cứ việc gì cũng không xong, và mọi việc sẽ trở thành gánh nặng đeo đẳng. Bởi vậy, để có được một giờ học văn lắng đọng, đầy xúc cảm, tâm hồn được thăng hoa, các giá trị của lòng bao dung từ ái được thắp sáng, để HS đồng điệu với những tâm tình của thầy cô….sẽ phụ thuộc rất nhiều vào vai trò, khả năng truyền thụ của người thầy.

         Đôi khi mải chạy theo kiến thức và thi cử (điều này không hoàn toàn sai trong bối cảnh hiện tại), GV chưa quan tâm đúng mức tới việc làm đầu tiên khi nhận lớp 9 là cần “thau chua rửa mặn” bằng cách truyền cho các em hứng thú, động lực học tập. Điều mà các GV trước đó hẳn cũng đã làm, nhưng ai đã chắc đâu đã làm một cách rốt ráo. Thêm nữa, mỗi thầy cô sẽ có cách tạo dựng hình ảnh của mình theo lối riêng. Về điều này, tôi xin phép được chia sẻ một vài việc mà bản thân đã thực hiện trong quá trình giảng dạy:

– Trước hết, cần quan tâm đến đời sống tâm lí lứa tuổi, tình cảm của các em. Nắm bắt và thấu hiểu được tâm tư tình cảm chính là chìa khóa để mở ra cánh cửa tâm hồn. Đây là hành động “phát quang đất trồng”, công việc còn lại thì mình sẽ yên tâm gieo hạt và tưới tắm để những hạt đó thực sự nảy mầm, bám rễ sâu vào lòng đất. Thay vì chỉ đứng trên bục giảng trong một khoảng cách vời xa, hãy làm bạn, gần gũi, quan tâm, lắng nghe HS.

– GV cũng cần biết khơi gợi các vấn đề gần gũi với tâm lí của các em, gieo vào các em những câu hỏi khêu gợi tinh thần hiếu tri, ham học hỏi; tạo ra nhu cầu, khát khao muốn được kết nối và chia sẻ. Hoạt động khởi động trong mỗi tiết học rất thuận lợi để kích hoạt hứng thú động lực cho HS là vì thế.

– Cần đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, nhất là chuẩn bị kĩ lưỡng từ khâu vào bài. Tích cực làm mới bài giảng của mình bằng hệ thống câu hỏi có chất lượng, những câu chuyện, những tình huống từ thực tiễn để gợi mở, kích thích trí tưởng tượng, khả năng tư duy, khai thác thái độ và nhân cách sống của HS. Không cố “nhồi nhét” kiến thức mà quên đi HS đang muốn gì ở thầy cô. Vận dụng linh hoạt, hiệu quả các PPDH tích cực, tránh tuyệt đối việc đọc chép những thế bản dài lê thê và yêu cầu HS học thuộc rồi đọc lại những điều đã thuộc mà không hiểu, không thực sự có xúc cảm văn chương, điều này khiến HS rất chán học và trở nên “khiếp” môn Văn.

– Tạo ra một không gian, một vùng văn hoá đọc mà ở đó thấm đẫm không khí văn chương trong suốt tiết học lẫn quá trình học bộ môn. GV phải là tấm gương sáng về văn hoá đọc và viết, sau đó ghi nhận HS bằng những món quà là những cuốn sách hay để hy vọng các em rèn được thói quen đọc sách, tăng vốn từ và học được cách viết văn.

– Kịp thời phát hiện tuyên dương, trân trọng những thành quả, dù là nhỏ nhất của HS. Nhận xét đánh giá cần thận trọng, tránh những câu từ mang năng lượng tiêu cực, hoặc có khả năng gây mất hứng thú ở HS,…khích lệ sự trao đổi cởi mở chân thành. Trách phạt HS cũng là một nghệ thuật, một sự tinh tế khéo léo, phạt thế nào, đủ để các em không chỉ nhận ra lỗi, sửa lỗi và không bao giờ tái phạm mà còn thực sự cảm phục thầy cô, biến được lời dạy khuyên bảo, trách phạt ấy thành một bài học nhân sinh sâu sắc đi suốt cuộc đời.

– Cuối cùng, muốn tạo tâm thế tốt cho HS trong mỗi giờ học, trước hết người thầy phải có một tâm thế tốt, nghĩa là luôn vui vẻ, tràn đầy năng lượng tích cực giúp giờ học vui tươi và hào hứng.

Dạy học theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất thì việc phân luồng đối tượng, tạo tâm thế, động lực, truyền cảm hứng cho các em cần phải được quan tâm, đầu tư công phu ngay từ đầu, tránh hời hợt nửa vời. Đây là quá trình “hiểu chỗ ngứa và tạo ngứa” (từ của TS.Trần Khánh Ngọc). GV chưa biết HS “ngứa” chỗ nào hoặc HS chưa “ngứa” (nghĩa là chưa hứng thú với bộ môn, chưa sẵn sàng tiếp nhận thầy và bài học) đã vội vã, “nhiệt tình” hăng say “sồn sột…gãi” (đổ đầy bình kiến thức), thì sau này cái đạt được trước mắt có thể sẽ mang lại cho thầy cô thành tích như ý, HS đỗ được kì thi nhưng sau đó sẽ khó có niềm vui và sống trọn vẹn đời sống của con người. Bởi sau lớp 9 các em sẽ còn tiếp tục cuộc hành trình làm người và học tập suốt đời.

Bám sát kiến thức cơ bản,

 chú trọng rèn kĩ năng dạng bài theo quy trình

Kiến thức là vô tận, học bao nhiêu cũng là không đủ, và rồi theo thời gian có thể hoặc bị bào mòn, hoặc bị thay đổi, lỗi thời, nhưng kĩ năng và cảm xúc là thứ tồn tại mãi mãi với HS, giúp HS nuôi dưỡng và thắp sáng những giá trị tinh thần cao đẹp. Về phần kiến thức, GV cần xác định rõ những đơn vị kiến thức cốt lõi để kịp thời trang bị cho HS, tránh dàn trải, mất thời gian, công sức. Muốn vậy, cần yêu cầu HS ôn tập bằng cách lập đề cương để hệ thống hoá, đánh dấu các kiến thức trọng tâm trong chương trình và trong cấu trúc đề thi.

– Đối với phần tiếng Việt: Cần nắm được bản chất khái niệm, lấy được dẫn chứng và phân tích. GV cần đặc biệt lưu ý giúp HS phân biệt những kiến thức dễ nhầm lẫn, ôn gần ngày thi như: từ ghép/từ láy, câu đặc biệt/câu rút gọn, câu đơn/câu ghép, thành ngữ/tục ngữ, ẩn dụ/hoán dụ…Phần tiếng Việt trong chương trình THCS trải rộng, tôi thường ưu tiên tập trung nhiều hơn cho các vấn đề: 1) Từ vựng: Từ láy và từ ghép; thành ngữ, tục ngữ; thuật ngữ; từ tượng thanh, từ tượng hình; một số phép tu từ từ vựng: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ. 2) Ngữ pháp: Thành phần câu (trạng ngữ, khởi ngữ, biệt lập); các kiểu câu chia theo cấu tạo, mục đích nói; các phép liên kết câu. 3) Hoạt động giao tiếp: Các phương châm hội thoại; cách dẫn gián tiếp và trực tiếp.

– Đối với phần Đọc hiểu: GV cần cung cấp cho HS những hệ thống tri thức Ngữ văn mang tính nền tảng, cơ bản đầy đủ để HS đọc hiểu như: Phương thức biểu đạt, thể thơ, các phép lập luận, hình thức đoạn văn, ngôi kể, các phép tu từ. Chú trọng rèn cho HS cách tìm kiếm thông tin; giải thích cắt nghĩa, phân tích, so sánh, kết nối; phản hồi đánh giá thông tin qua việc thực hành từng dạng câu hỏi; hướng dẫn HS cách xác định yêu cầu, hướng trả lời và cách trình bày câu trả lời cho từng dạng câu hỏi sao cho: trúng, đúng, đủ; ngắn gọn, rõ ràng, logic. Đặc điểm câu hỏi đọc hiểu thường sẽ hỏi từ văn ra ý, từ nghệ thuật ra nội dung, từ chi tiết hình ảnh ra hình tượng nhân vật/ý nghĩa văn bản. Khi luyện, tôi thường tập trung vào ba thể loại phổ biến với các dạng câu hỏi theo đặc trưng thể loại: 1) Truyện: cốt truyện, tình huống, tính cách nhân vật, chi tiết, nghệ thuật kể chuyện, ý nghĩa/thông điệp…2) Thơ: thể thơ, nhân vật trữ tình, chủ đề, ngôn ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, tình cảm, cảm xúc/ý nghĩa/thông điệp; 3) Văn bản nghị luận: luận đề, hệ thống luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng, mạch lập luận, tư tưởng của tác giả.

Ở mỗi thể loại/kiểu văn bản, câu hỏi cần thiết kế theo các mức độ nhận thức như: Biết – Hiểu – Vận dụng, sao cho ở mỗi thể loại/kiểu văn bản các câu hỏi quét được hết các dạng khác nhau để HS không bỡ ngỡ, gặp dạng câu hỏi nào các em cũng biết cách xử lí một cách có hiệu quả.

*Câu hỏi nhận biết:

– Nhận biết hình thức: nhận diện thể loại, phương thức biểu đạt, chi tiết, hình ảnh, biện pháp tu từ,…được sử dụng trong văn bản.

– Nhận biết nội dung: chỉ ra thông tin nổi bật của đoạn trích/văn bản.

*Câu hỏi thông hiểu:

– Hiểu hình thức: nêu hiệu quả/tác dụng của việc sử dụng các thao tác lập luận, nêu được nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản theo đặc trưng thể loại.

– Hiểu nội dung: nêu cách hiểu về câu văn (phân biệt theo tác giả/theo em), nêu chủ đề/nội dung chính, quan điểm/tư tưởng/cảm xúc của tác giả.

*Câu hỏi vận dụng:

– Nhận xét, đánh giá giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản.

– Rút ra bài học/thông điệp từ văn bản.

*Câu hỏi vận dụng cao:

– Bày tỏ quan điểm thái độ;

– Liên hệ thực tế đời sống (liên hệ hiện tượng nào và đưa ra giải pháp).

– Đối với phần viết đoạn văn nghị luận xã hội: Đoạn văn (không phải bài văn thu nhỏ) nên chỉ bàn về một khía cạnh của vấn đề, hoặc yêu cầu bàn về khía cạnh ý nghĩa (sự cần thiết/tầm quan trọng/lợi ích/ vai trò/sức mạnh), hoặc bàn về giải pháp (con đường/việc cần làm/cách thức). Tôi tập trung ôn vào các vấn đề gần gũi như các vấn đề học tập; các mối quan hệ trong đời sống gia đình, bè bạn, quê hương. Đặc biệt tôi thường ưu tiên ôn tập viết đoạn văn bàn về các phẩm chất con người,những phạm trù đạo đức thuộc về giá trị phổ quát, bất biến, không sa vào luyện quá nhiều chủ đề hay chạy theo những vấn đề có tính thời sự nhất thời, tránh gây lãng phí thời gian, công sức.Do ít đọc nên vốn hiểu biết xã hội của HS còn hạn hẹp nên tôi thường chắt lọc các câu danh ngôn, tục ngữ, những nhân vật nổi tiếng…để HS có nguồn tham khảo, trích dẫn dẫn chứng.Câu này chiếm 1,5 điểm nên tôi chú trọng rèn cho HS cách phân bổ các câu sao cho đảm bảo dung lượng đề yêu cầu, cách viết câu mở đoạn, cách đưa lí lẽ, dẫn chứng/phân tích dẫn chứng, và rút ra bài học theo một quy trình đơn giản nhưng vẫn đảm bảo tính mạch lạc, khúc triết. Dưới đây là hai dạng trọng tâm:

Dạng 1: Bàn về ý nghĩa/tác dụng/ sự cần thiết/vai trò/tầm quan trọng/sức mạnh,…

VD: Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của sự trải nghiệm

A. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề ngắn gọn (1 câu bằng cách biến yêu cầu của mệnh đề thành câu mở đoạn, nêu nhận xét khẳng định).VD: Trong cuộc sống, sự trải nghiệm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với tất cả chúng ta.

B. Thân đoạn:

+ Bước 1. Giải thích ngắn gọn: nếu đề bài đưa ra những vấn đề khó hiểu thì cần giải thích rõ trước khi phân tích. Viết khoảng 1 câu: Trải nghiệm là tự mình trải qua để có được hiểu biết, tích luỹ, rút ra bài học kinh nghiệm.

+ Bước 2. Phân tích + Chứng minh ý nghĩa của vấn đề:

– Phân tích bằng cách đưa ra lí lẽ (VD: Trải nghiệm có ý nghĩa/ tác dụng như thế nào với cá nhân? với xã hội?).

Cách nêu:

*Ý nghĩa đối với cá nhân:  (ý này rất quan trọng, cần nêu được từ 3 ý nghĩa trở lên)

– Trước hết, sự trải nghiệm có ý nghĩa rất quan trọng với mỗi cá nhân. Sự trải nghiệm đem đến cho chúng ta những cơ hội để được khám phá thế giới rộng lớn và phong phú xung quanh mình, góp phần làm giàu có cả tâm hồn và trí tuệ.

– Ngoài ra, càng trải nghiệm nhiều ta càng có thêm những kinh nghiệm quý báu và cần thiết giúp chúng ta trưởng thành trên con đường hoàn thiện chính bản thân mình.

– Không chỉ vậy, khi trải nghiệm, con người còn được khám phá chính những năng lực, sở trường tiềm ẩn của bản thân, để mạnh dạn bước ra khỏi vùng an toàn, phá vỡ những giới hạn, những rào cản, để vươn tới những giá trị tốt đẹp và lớn lao hơn…

– Hơn thế….

*Ý nghĩa đối với xã hội: (bắt buộc, cần nêu được 1 đến 2 ý nghĩa)

Không chỉ có ý nghĩa lớn với mỗi cá nhân, sự trải nghiệm còn hết sức quan trọng đối với cả cộng đồng xã hội. Một xã hội mà ở đó mỗi người tích cực trải nghiệm sẽ là một xã hội phát triển năng động, tích cực. Đó là tiền đề tạo ra một đất nước phát triển, văn minh, tiến bộ.

– Sự trải nghiệm ở mỗi cá nhân sẽ lan tỏa năng lượng tích cực, nhân rộng những giá trị tốt đẹp đến những người xung quanh/ truyền động lực sống, cảm hứng sống tích cực….;

– ….

– Chứng minh bằng cách đưa ra dẫn chứng (VD: Vấn đề này được biểu hiện như thế nào? )

*Yêu cầu: Nêu được một đến hai dẫn chứng tiêu biểu. Nguồn dẫn chứng: lấy trong đời sống vật chất/tinh thần; trong lịch sử/văn hóa/phong tục; quá khứ và hiện tại; trong đời sống cá nhân/xã hội; trong sách vở/báo chí; trong nhận thức suy nghĩ/hành động.

*Cách đưa dẫn chứng:

– Hẳn chúng ta còn nhớ/ chưa thể nào quên…

– Có lẽ tất cả chúng ta ai cũng biết tới….

– Nhà văn A đã từng nói…. 

+ Bước 3. Liên hệ mở rộng vấn đề (Vấn đề trên đang được nhận thức và hành động như thế nào? Biểu hiện ra sao? Thái độ của mình trước những biểu hiện đó?)

C. Kết đoạn: Rút ra bài học (viết khoảng 2 câu, 3 dòng ngắn gọn)

+ Nhận thức: Khẳng định, nâng cao vấn đề (VD: Sự trải nghiệm luôn mang đến cho mỗi người, những bài học vô cùng quý giá trong hành trang cuộc đời….)

+ Hành động: Nêu ra được việc cần làm là gì? (VD: Chúng ta cần phải biết mở rộng tầm nhìn bằng cách đi nhiều, học hỏi những điều mới lạ từ thế giới xung quanh).

(Không nên viết lại câu chủ đề; cần phải nhìn nhận được quá trình và tổng kết lại nội dung đã bàn luận trước đó; nâng cao vấn đề; để lại thông điệp và bài học ý nghĩa. Nên hướng đến người trẻ/tuổi trẻ; viết từ 2 đến 3 dòng).

Dạng 2: Bàn về giải pháp (con đường/cách thức/làm thế nào). Đây là dạng đề xuất giải pháp. Cách triển khai cơ bản như dạng 1. Lưu ý khi đưa giải pháp: cần đi từ nhận thức đến hành động của bản thân; của cộng đồng xã hội.

– Đối với phần viết bài văn nghị luận văn học: Đây là câu chiếm nhiều điểm nhất, gánh nặng nhất trong tổng thể phần ôn tập chung. GV cần hệ thống lại các tác phẩm trọng tâm trong CT theo từng chuyên đề, kết hợp ôn cuốn chiếu và ôn theo vòng, chú ý các vấn đề cốt lõi đặt ra trong mỗi tác phẩm. Để tiết kiệm thời gian và có kênh tham chiếu hữu ích, ngoài việc ghi tóm tắt các ý chính ở vở trên lớp, tôi tự biên soạn tập tài liệu diễn giảng khoa học, chi tiết (có bổ sung, chỉnh lí hàng năm, có lưu ý dành cho từng loại đối tượng HS khi dùng) để HS sử dụng, hỗ trợ những em nghèo vốn từ, khả năng diễn đạt chưa tốt. Rèn kĩ năng làm bài bằng việc cho HS thực hành nhiều dạng đề khác nhau và cách xử lý với từng dạng. Bài làm cần yêu cầu HS: Đảm bảo kiến thức trọng tâm, cơ bản; luận điểm rõ ràng; luận giải chứng minh thuyết phục, có suy nghĩ riêng độc đáo, sáng tạo; biết so sánh mở rộng làm sâu sắc vấn đề; thể hiện năng lực tri thức của người viết; viết những câu văn có cảm xúc, có hình ảnh, chững chạc, khoa học, chuyên nghiệp, bài bản. Muốn vậy, HS cần nắm chắc tác phẩm, dành thời gian thích đáng để phác thảo dàn ý ngắn gọn, mạch lạc để không bị sót ý, lặp ý. Viết xong dành 5 phút để đọc lại bài sửa chữa, bổ sung. Định hướng ôn tập cơ bản như sau: GV hệ thống lại các tác phẩm trọng tâm (sơ đồ hóa); cung cấp cho HS một số khái niệm cơ bản về lí luận như: các yếu tố đặc trưng của thơ, truyện ngắn để HS nắm vững công cụ phân tích từng thể loại, chỉ khi HS hiểu và tự mình làm thì mới nhớ lâu và nhớ sâu kiến thức; rèn kĩ năng làm bài cho HS thông qua việc xử lý, thực hành các dạng đề khác nhau; thường xuyên kiểm tra, chấm trả, sửa bài kĩ lưỡng; yêu cầu HS thực hiện đủ 4 bước làm bài văn; bài làm cần theo các tiêu chí rõ ràng về hình thức, kĩ năng, kiến thức.

 Về cơ bản, GV cần ôn tập/phân biệt cho HS theo từng dạng như: Dạng 1: Chỉ nêu yêu cầu, không có định hướng nội dung. VD: Phân tích/Cảm nhận một đoạn thơ hoặc một nhân vật. Dạng 2: Nêu yêu cầu, có định hướng nội dung và câu hỏi liên hệ. VD: Phân tích vẻ đẹp tâm hồn nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Từ đó em có suy nghĩ gì về trách nhiệm của thanh niên trong thời đại ngày nay. Dạng 3: Nêu yêu cầu (phân tích/cảm nhận) để làm sáng tỏ một ý kiến/nhận định. Đối với HS đại trà dạng này tập trung chủ yếu về loại ý kiến/nhận định khía cạnh nội dung tác phẩm như một cách để định hướng nên HS cần chú ý bám sát vào đó để phân chia luận điểm trong khi làm bài. VD: “Truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, mơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ, hi sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Bằng cảm nhận về nhân vật Phương Định trong truyện Những ngôi sao xa xôi của nhà văn Lê Minh Khuê, em hãy làm rõ nhận định trên.

 Nói chung, với mỗi dạng đề, GV cần hướng dẫn HS nhận biết sự khác biệt về yêu cầu, phạm vi giới hạn, thao tác lập luận để biết cách xử lý sao cho phù hợp, đạt mục tiêu tối ưu.

Giúp HS tuyệt đối tránh những lỗi

 dễ bị mất điểm trong quá trình làm bài

Một bài thi đạt điểm cao đương nhiên không chỉ nằm ở chỗ đạt được những kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu của đề mà còn ở việc nhận ra những lỗi dễ bị mất điểm để tránh. Việc chấm trả bài thường xuyên sẽ giúp HS nhận ra điều này. Để rút ngắn thời gian, tăng cường tần xuất đánh giá, tôi thường cùng HS xây dựng bảng tiêu chí cho điểm từng phần ở từng dạng bài một cách khoa học, rõ ràng (Rubrics, bảng kiểm). HS nắm rõ, sẽ tự mình kiểm tra trước, sau đó đổi chéo bài cho nhau (đánh giá đồng đẳng), soi chiếu vào từng tiêu chí, nhận xét góp ý để giúp nhau điều chỉnh khắc phục. Đánh giá đồng đẳng được coi là biện pháp đánh giá có khá nhiều ưu điểm trong CT 2018 đặt ra mà CT 2006 ít được GV chú trọng sử dụng. Thông qua việc đánh giá, chấm điểm lẫn nhau HS sẽ được tăng cơ hội làm việc, tương tác, tranh luận. Đó cũng là cách giúp HS nhận ra những lỗi sai thường mắc phải, tự ôn bài và học tập lẫn nhau một cách rất có hiệu quả. Sau khi HS tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau, GV chụp và chiếu cả bài tốt và bài chưa tốt để HS cùng học tập và rút kinh nghiệm, tham khảo những bài viết tốt để học tập cách hành văn, cách diễn đạt, dùng từ. Dưới đây là những lỗi HS thường mắc phải, GV cần quan tâm khắc phục, lưu ý để HS tuyệt đối tránh:

– Đối với kĩ năng Đọc hiểu: HS cần tránh những lỗi như: hổng kiến thức cơ bản về tiếng Việt, làm văn, đặc biệt là đặc trưng thể loại; hạn chế hiểu biết về kiến thức xã hội (trong khi kiểu câu hỏi vận dụng rất cần sự hiểu biết xã hội, trải nghiệm phong phú của bản thân); hạn chế về kho ấn tượng thẩm mĩ. Các kĩ năng đọc và trả lời câu hỏi còn vụng về như: chưa xác định chính xác yêu cầu câu hỏi và cách trả lời cho từng dạng câu hỏi nên trả lời dài dòng, không đúng trọng tâm, bỏ sót các câu, các ý. Ví dụ: Câu hỏi yêu cầu tìm từ ngữ, chi tiết, hình ảnh thì chép cả đoạn, cả câu thơ; viết những câu cụt ngủn, không có chủ ngữ, không hết ý; lí giải vấn đề dài dòng không thuyết phục, không theo mạch tư duy, không tách từng ý. Ở những câu mang tính nhận biết nhưng lại chủ quan vì cho là câu hỏi dễ nên đọc qua loa, không tầm soát hết thì dễ trình bày sót ý, ảnh hưởng đến những nhận xét suy luận ở những câu sau như câu nhận xét, đánh giá, rút ra thông điệp;nhầm lẫn tác dụng của các biện pháp tu từ với nhau, nhầm lẫn phương thức biểu đạt với phép lập luận, cách trình bày đoạn văn…

– Đối với kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội: HS cần tránh các lỗi như: viết câu mở đoạn dài dòng, sáo mòn cũ kĩ, hoặc viết câu chủ đề/mở đoạn không đúng vấn đề nghị luận; dẫn dắt bằng thơ, trích dẫn theo hàng dọc, lơ là sẽ dễ biến phần trình bày thành hai đoạn văn, đương nhiên mất điểm hình thức, cấu trúc; dẫn dắt vòng vo, ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề cần nghị luận. Ở phần thân đoạn thì thiếu từ ngữ liên kết, trình bày lộn xộn, phân tích dẫn chứng dài dòng, dẫn chứng không phù hợp với vấn đề nghị luận. Kết đoạn sử dụng câu chung chung, hô hào, lý thuyết, sáo mòn.

– Đối với kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học: HS cần tránh các lỗi như: Xây dựng hệ thống ý chưa khoa học, chưa đúng với vấn đề nghị luận, luận điểm rất chông chênh, mông lung, không rõ ràng, phần phân tích, chứng minh luận giải không triệt để, không bao quát hết luận điểm, thiếu các từ ngữ thể hiện thái độ nhận xét, đánh giá của người viết, chuyển ý thiếu mạch lạc. Cụ thể: Nghị luận về nhân vật truyện: tránh đưa ra những nhận định chung chung, chưa biết cách chọn và trình bày dẫn chứng (dẫn chứng dài dòng, không chính xác, không để trong ngoặc kép), thường kể/thuật lại tác phẩm lan man dài dòng, thiếu sự tổng hợp khái quát về tác phẩm, không chỉ ra và đánh giá được yếu tố nghệ thuật. Nghị luận về đoạn thơ/bài thơ: Chưa đi từ các tín hiệu nghệ thuật đến nội dung tư tưởng, chưa bình giá tỉ mỉ về ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung cảm xúc của tác phẩm; thường diễn xuôi ý thơ, trích dẫn ngôn từ thơ, viện dẫn lời bình của người khác không cho vào ngoặc kép, hoặc không ăn khớp với vấn đề đặt ra nên bị lệch pha… Khi liên hệ mở rộng, thường chỉ so sánh chung chung mà không chỉ ra được những đặc điểm giống hoặc khác biệt, những đóng góp riêng của tác giả, của vấn đề nghị luận. Cách diễn đạt vấn đề còn lủng củng, luẩn quẩn, không thoát ý cần trình bày; sai lỗi chính tả, cách dùng từ, viết câu, dẫn chứng nghèo nàn, không toát lên được nội dung nghị luận.

– Đối với tổng thể bài thi: HS cầnlàm đầy đủ các yêu cầu, các phần, các câu, tránh bỏ câu, bỏ ý;lựa chọn câu mình nắm vững kiến thức để làm trước, có thể để cách 01 đến 02 dòng để sửa chữa bổ sung (nếu cần);phân bổ thời gian hợp lý, tương ứng với điểm số các câu;phân biệt yêu cầu kĩ năng đặc thù của từng phần: cách trả lời đọc hiểu (câu hỏi yêu cầu trả lời ngắn) khác với tạo lập văn bản (câu hỏi yêu cầu biết viết một đoạn văn/bài văn đảm bảo trình tự, liên kết, bố cục);trình bày bài làm phải sạch sẽ, trang trọng, ngay ngắn; diễn đạt mạch lạc khúc triết, không mắc lỗi chính tả…

Xét đến cùng “Dạy học là quá trình mà ở đó chúng ta chú tâm đến nhu cầu, trải nghiệm của con người, cảm xúc của các em để can thiệp giúp các em học một số điều cụ thể, để các em vượt khỏi cái chúng ta đang dạy” (Lê Đình Hiếu) đó mới là điều quan trọng rốt ráo. Thi xong, đạt nguyện vọng đỗ xong cái còn lại là kiến thức bị rũ bỏ, kĩ năng, thái độ không đọng lại là bao, tính ứng dụng, thực hành thì không có, âu cũng là một dạng bi kịch khiến thời gian, tiền bạc, công sức của các em và gia đình, rộng ra là nguồn lực xã hội trở nên vô cùng lãng phí. Đó là điều tôi day trở nhất sau mỗi kì thi vào lớp 10. Nhưng rồi, dẫu sao, vẫn cứ cần phải đi hết cuộc hành trình như con tàu đã rời sân ga. Những điều chia sẻ trên hẳn cũng có nhiều thầy cô đã làm, vấn đề còn lại, như đã đề dẫn, đó là kĩ năng nghiệp vụ và khả năng truyền dẫn của mỗi thầy cô đến học trò – một điểm trọng yếu để ngựa phi đường dài.